Các thế lực thù địch đã lợi dụng thiên tai để xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống thiên tai, gây hoài nghi trong Nhân dân. Những luận điệu này là sai trái, phiến diện và không phù hợp với thực tiễn. Từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự vào cuộc của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương và thực tế những kết quả đã đạt được chúng tôi phân tích, lập luận nhằm phản các các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống thiên tai. Những kết quả đạt được đã khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân và bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống thiên tai và phát triển bền vững đất nước.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của thiên tai tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Mỗi năm chịu ảnh hưởng từ 10–15 cơn bão, áp thấp nhiệt đới cùng với lũ quét, sạt lở đất, hạn hán… gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Nhận thức sâu sắc điều đó, Đảng và Nhà nước luôn đặt công tác phòng, chống thiên tai là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên; coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng gắn với bảo vệ an toàn tính mạng, đời sống Nhân dân và phát triển bền vững đất nước.
Tuy nhiên, lợi dụng khó khăn, tổn thất do thiên tai gây ra, các thế lực thù địch, phản động đã tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống thiên tai nhằm gây hoài nghi, phá hoại niềm tin của Nhân dân. Vì vậy, việc nhận diện, phân tích và phản bác các luận điệu sai trái này là yêu cầu cấp thiết nhằm củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống thiên tai và phát triển bền vững đất nước.Top of Form
Nhận định và bác bỏ luận điệu của các thế lực thù địch cố tình bóp méo bản chất vấn đề, quy kết rằng Đảng “thiếu năng lực lãnh đạo”, “buông lỏng quản lý”, “để mặc Nhân dân tự xoay xở trước thiên tai”
Đây là sự xuyên tạc trắng trợn, đi ngược lại thực tiễn công tác phòng, chống thiên tai ở nước ta. Trước hết, cần khẳng định rằng Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc”. Trong mọi tình huống, công tác bảo đảm an sinh, cứu trợ người dân vùng thiên tai luôn được đặt lên hàng đầu; các chính sách hỗ trợ khẩn cấp, gói tài chính đặc biệt, nguồn dự phòng ngân sách trung ương luôn được kích hoạt ngay sau thiên tai, không để người dân bị bỏ lại phía sau.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm, lãnh đạo và chỉ đạo sâu sát công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 2017) đã nhấn mạnh yêu cầu chủ động ứng phó, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, coi đây là trách nhiệm của toàn xã hội; Chỉ thị 42-CT/TW (2015) của Ban Bí thư cũng khẳng định phải “nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền trong phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai”; Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định rõ nhiệm vụ “chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” là một trong ba đột phá chiến lược để phát triển bền vững đất nước; Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu “lấy con người làm trung tâm”, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân là ưu tiên cao nhất của hệ thống chính trị. Đây là những quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, thể hiện rõ tư tưởng nhân văn, trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bảo vệ đời sống của nhân dân.
Thực tế chứng minh, ngay khi có bão lũ, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống thiên tai, Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng cùng chính quyền địa phương đều chủ động chỉ đạo, huy động lực lượng ứng cứu kịp thời. Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ thị quan trọng về phòng, chống thiên tai, tiêu biểu như việc xác định rõ phòng, chống thiên tai là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trên cơ sở đó, cấp ủy, chính quyền các cấp đã thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cụ thể; kiện toàn bộ máy chỉ đạo, điều hành; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo; huy động hiệu quả các nguồn lực cho phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai. Từ việc xây dựng các bản đồ cảnh báo lũ quét, hệ thống quan trắc thủy văn, hoàn thiện cơ chế dự báo, đến việc chuẩn bị phương án sơ tán, ứng cứu, lực lượng tại chỗ đều được thực hiện nghiêm túc. Phương châm “bốn tại chỗ” được áp dụng hiệu quả, giảm thiểu đáng kể thiệt hại trong những đợt lũ lớn. Mỗi khi bão lớn tới gần, hàng trăm nghìn người dân được sơ tán đến nơi an toàn; hệ thống trường học, trạm y tế được chuẩn bị làm nơi trú tránh tạm thời; lực lượng quân đội, công an, dân quân tự vệ luôn trong trạng thái sẵn sàng cao nhất. Những hành động đó phản ánh rõ nét sự chủ động và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ nhân dân.

Lực lượng Công an kịp thời hỗ trợ người dân trước, trong và sau thiên tai
Đặc biệt trong năm 2024, năm 2025 trước các cơn bão nguy hiểm, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng, ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, cụ thể như: Công điện số 86/CĐ-TTg ngày 03/09/2024 của Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai ứng phó bão số 3 và mưa lũ kèm theo, yêu cầu bộ ngành và địa phương theo dõi sát diễn biến thời tiết, tổ chức ứng phó theo phương châm “bốn tại chỗ”, triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn cho dân, sản xuất và tài sản; Công điện số 87/CĐ-TTg ngày 05/09/2024 của Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tập trung huy động toàn hệ thống chính trị để ứng phó khẩn cấp với bão số 3, chỉ đạo rà soát phương án ứng phó, bố trí lực lượng phương tiện hỗ trợ phòng chống bão, lũ theo chức năng của các bộ, ngành và địa phương; Công điện 90/CĐ-TTg ngày 09/09/2024 của Thủ tướng Chính phủ về chỉ đạo tập trung cung cấp lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm phục vụ đời sống người dân bị ảnh hưởng; Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; Nghị quyết số 347/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai sau bão số 11, nhanh chóng ổn định tình hình đời sống nhân dân, đẩy mạnh khôi phục sản xuất kinh doanh, tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát tốt lạm phát; Nghị quyết số 380/NQ-CP ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Chính phủ về các giải pháp khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất tại các địa phương khu vực miền Trung; Công điện số 239/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh tiêu dùng, phục vụ nhu cầu Tết của Nhân dân….
Ban chỉ đạo về công tác phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn thường xuyên tổ chức các hội nghị, cuộc họp tập trung trao đổi, thảo luận, đánh giá công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; công tác lãnh đạo, chỉ đạo đã được triển khai quyết liệt theo tinh thần "từ sớm, từ xa", liên tục, sâu sát. Có thời điểm đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, tất cả các Phó Thủ tướng đều trực tiếp có mặt ở những điểm nóng mưa lũ để chỉ đạo khắc phục hậu quả, đồng thời thăm hỏi, động viên kịp thời các gia đình bị ảnh hưởng do thiên tai gây ra; các đồng chí lãnh đạo địa phương cũng thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các lực lượng tại chỗ thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai trên địa bàn. Ban Chỉ đạo Trung ương phòng chống thiên tai, Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn trước đây, nay là Ban Chỉ đạo phòng thủ dân sự quốc gia và ban chỉ huy các cấp đã phát huy vai trò trung tâm, quán triệt sâu sắc phương châm hành động “chủ động, quyết liệt, phòng ngừa, ứng phó ở mức cao nhất, sẵn sàng ứng phó với các tình huống xấu nhất”. Phương châm “bốn tại chỗ” đã được phát huy hiệu quả, đặc biệt là khơi dậy được sự chủ động của người dân và vai trò trung tâm của chính quyền cơ sở; huy động sức mạnh tổng lực, góp phần giảm thiểu những thiệt hại nặng nề hơn có thể xảy ra. Hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ - lực lượng nòng cốt, xung kích, “chiến đấu trong thời bình” được huy động, không quản ngại hiểm nguy, có mặt ở những nơi khó khăn nhất, nguy hiểm nhất để di dời dân, đảm bảo an ninh trật tự và tham gia cứu nạn, cứu hộ.
Mỗi khi đồng bào miền Trung oằn mình chống lũ, hay người dân Tây Bắc phải gánh chịu lũ quét, sạt lở đất, thì ở khắp mọi miền Tổ quốc, những tấm lòng chia sẻ, những nguồn lực hỗ trợ lại lập tức được gửi đến, làm ấm lòng người dân vùng bị nạn; từ những phần quà nhỏ của học sinh, sinh viên đến những đoàn xe thiện nguyện chở lương thực, vật dụng thiết yếu; từ sự sẻ chia giữa các địa phương đến sự hỗ trợ của kiều bào nước ngoài, tất cả đều góp phần khẳng định một chân lý tinh thần nhân ái và đại đoàn kết luôn là sức mạnh cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đây là giá trị văn hóa được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện rõ trong những câu nói quen thuộc như “lá lành đùm lá rách”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”. Chính truyền thống này đã tạo nên sự đoàn kết bền chặt trong cộng đồng, trở thành nguồn sức mạnh to lớn giúp đất nước vượt qua thử thách.
Bác bỏ luận điệu của các thế lực thù địch cho rằng: “Thiên tai gây thiệt hại lớn chứng tỏ sự lãnh đạo của Đảng không hiệu quả”
Trong thời gian qua, tình hình thiên tai trên toàn cầu xảy ra với tần suất và cường độ ngày càng lớn, sức tàn phá ngày càng nặng nề, vượt qua mọi kỷ lục. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề do thiên tai. Riêng cơn bão số 3 (Yagi) năm 2024 mạnh nhất trong 70 năm trên đất liền, cùng mưa lũ sau đó đã tàn phá nặng nề 26 tỉnh thành phía Bắc, cướp đi sinh mạng của 345 đồng bào ta và gây thiệt hại kinh tế gần 85.000 tỷ đồng, giảm 0,25 điểm phần trăm tăng trưởng năm 2024. Xu thế cực đoan, dị thường của thời tiết và thiên tai tiếp tục diễn ra trong 7 tháng năm 2025, với 114 người chết, mất tích và thiệt hại kinh tế trên 553 tỷ đồng. Không chỉ Việt Nam, trong năm 2025 Philippines hứng chịu liên tiếp 2 cơn bão lớn vào đầu tháng 11/2025 là Kalmaegi (bão số 13) và Fung-Wong (bão số 14) gây ra thiệt hại nặng nề, đặc biệt tại miền Trung (Cebu) và đảo Luzon, tình trạng ngập lụt nghiêm trọng do mưa lớn và lũ quét; 2 cơn bão này đã gây ra thảm họa lớn nhất đầu năm 2025, khiến chính phủ phải ban bố tình trạng thảm họa quốc gia. Tại Đông Nam Á, bão Senyar đổ bộ Indonesia cuối tháng 11/2025 mang theo mưa lớn, dẫn đến lũ lụt làm hơn 910 người chết. Đảo Sumatra hứng chịu ảnh hưởng nặng nề, nhiều vùng bị cô lập, người dân phụ thuộc vào hàng cứu trợ thả từ trên không. Bão Senyar sau đó ảnh hưởng đến Malaysia và Thái Lan, khiến khoảng 200 người chết tại hai nước…
Từ thực tiễn ảnh hưởng của thiên tai đến các nước trong khu vực và trên thế giới, có thể thấy rằng thiên tai là hiện tượng tự nhiên khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào, do vậy luận điệu của các thế lực thù địch cho rằng: “thiên tai gây thiệt hại lớn chứng tỏ sự lãnh đạo của Đảng không hiệu quả” là cách lập luận phiến diện, phản khoa học.
Thực tế cho thấy, nhờ sự lãnh đạo của Đảng, nhiều địa phương đã chủ động sơ tán dân, bảo vệ tính mạng Nhân dân, giảm thiểu đáng kể thiệt hại so với trước đây; công tác cứu trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả được triển khai kịp thời, công khai, minh bạch, đúng đối tượng. Đối mặt với những diễn biến thiên tai ngày càng cực đoan, khốc liệt, dưới sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp, sát sao của đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các lực lượng chức năng đã triển khai quyết liệt, hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai, nhất là các lực lượng tuyến đầu, lực lượng quân đội, công an đã luôn sẵn sàng vào cuộc, hỗ trợ người dân, đồng thời phát huy vai trò trung tâm, chủ thể của người dân, "tình dân tộc, nghĩa đồng bào" được phát huy, qua đó giảm tối đa thiệt hại về tính mạng, tài sản của Nhà nước và người dân. Năm 2024 tổng nguồn lực huy động từ Trung ương và toàn xã hội cho ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai trên 5.530 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương để hỗ trợ các địa phương. Về hiện vật, đã xuất cấp 1.052 tấn gạo, 629 tấn hạt giống các loại và 90.000 lít hoá chất khử trùng từ dự trữ quốc gia; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể đã huy động nguồn lực xã hội hóa lên tới gần 3 nghìn tỷ đồng; các quốc gia, các tổ chức quốc tế và phi chính phủ đã hỗ trợ Việt Nam trên 25 triệu USD cùng với 222 tấn hàng cứu trợ, thể hiện tinh thần đoàn kết, hữu nghị, sát cánh cùng nhân dân Việt Nam vượt qua khó khăn.
Trước diễn biến phức tạp của bão lũ năm 2025, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt, từ sớm và từ xa công tác ứng phó, cứu hộ và khắc phục hậu quả. Lực lượng quân đội, công an, dân quân được triển khai ngay đến các địa bàn bị chia cắt; hàng chục nghìn người được sơ tán khỏi khu vực nguy hiểm; lương thực, thuốc men, nước sạch được tiếp tế kịp thời đến các vùng ngập sâu; các đoàn công tác cấp cao trực tiếp đến hiện trường, chỉ đạo khắc phục và thăm hỏi, động viên người dân bị thiệt hại.
Đồng thời, Nhà nước ưu tiên nguồn lực để khôi phục hạ tầng, hỗ trợ tái sản xuất, ổn định cuộc sống người dân vùng thiên tai. Đặc biệt, đã phát động “Chiến dịch Quang Trung” thần tốc xây dựng lại, sửa chữa nhà tái định cư cho tất cả hộ gia đình có nhà bị sập hoặc bị cuốn trôi; tính đến nay riêng tại các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung đã khởi công xây dựng 971/1.635 nhà bị sập, trong đó đã hoàn thành 479 nhà; sửa chữa 34.627 nhà/39.461 ngôi nhà hư hỏng nặng, đang tiến hành sửa chữa 3.943 nhà. Chính phủ cũng triển khai các cơ chế hỗ trợ kinh tế thiết thực như giảm thuế, hoãn phí, hoãn tiền thuê đất cho người dân và doanh nghiệp chịu thiệt hại nặng nề. Những hành động cụ thể và kịp thời đó khẳng định rằng, ngay trong hoàn cảnh khốc liệt nhất, Việt Nam vẫn kiên trì bảo đảm các quyền con người; chính sách lấy con người làm trung tâm đã huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân, doanh nghiệp và sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế trong quá trình phục hồi sau thiên tai.
Bác bỏ luận điệu của các thế lực thù địch cố tình so sánh khập khiễng Việt Nam với một số quốc gia khác, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng
Trong điều kiện một nước đang phát triển, thường xuyên chịu nhiều loại hình thiên tai khốc liệt, việc Đảng ta lãnh đạo tổ chức phòng, chống thiên tai ngày càng bài bản, hiệu quả, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đã là minh chứng rõ ràng cho năng lực lãnh đạo đúng đắn và vì Nhân dân.
Bên cạnh đó, thực tiễn phòng, chống thiên tai còn cho thấy rõ bản chất tốt đẹp của chế độ ta dưới sự lãnh đạo của Đảng: Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách”. Khi thiên tai xảy ra, cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc; lực lượng quân đội, công an không quản hiểm nguy cứu dân; các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp, Nhân dân cả nước chung tay ủng hộ đồng bào vùng thiên tai. Đây chính là sức mạnh to lớn bắt nguồn từ vai trò lãnh đạo của Đảng, không một thế lực nào có thể phủ nhận.
Xét trong tổng thể chính sách, bảo đảm nhân quyền trong ứng phó thiên tai ở Việt Nam không phải là giải pháp nhất thời, mà nằm trong chiến lược lâu dài. Liên hợp quốc khẳng định nhân quyền là những điều thiết yếu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển mỗi ngày, và điều đó được phản ánh rõ trong các chính sách của Việt Nam. Nhiều chương trình an sinh xã hội quy mô lớn, giảm nghèo đa chiều bền vững, phổ cập giáo dục, bảo hiểm y tế toàn dân, cùng các chính sách ưu tiên dành cho đối tượng yếu thế - phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số - đã tạo nên “tấm đệm an sinh” hiệu quả, giúp người dân nhanh chóng phục hồi sau thiên tai và rủi ro khí hậu. Thực tế, những nỗ lực bền bỉ trong suốt nhiều thập niên bảo đảm và phát huy các quyền con người trên mọi lĩnh vực của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận xứng đáng. Ngày 14/10/2025 vừa qua, Việt Nam tái trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026-2028 với 180 phiếu ủng hộ - cao nhất trong Nhóm châu Á - Thái Bình Dương. Đây là nhiệm kỳ thứ ba Việt Nam đảm nhận vai trò này, và là nhiệm kỳ thứ hai liên tiếp, thể hiện sự tín nhiệm mạnh mẽ của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc đối với cam kết và nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.
Những bước phát triển vượt bậc của Việt Nam trong phát triển kinh tế xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, là những dấu ấn nổi bật. Nhiều cải cách luật pháp và hệ thống hành chính được triển khai mạnh mẽ đã đặt con người vào vị trí trung tâm, tất cả vì hạnh phúc và cuộc sống tốt đẹp hơn của người dân. Ba lần được tín nhiệm bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc không chỉ là thắng lợi của đường lối đối ngoại Việt Nam, mà còn thể hiện bản lĩnh, năng lực vươn lên đảm nhiệm vai trò tích cực tại các thể chế đa phương.
Thực hiện: Nông Thị Phương